Search This Blog

Friday, 28 December 2018

023 Ngày tháng




[bài 023] (Mạn thuật 1/14)

Ngày tháng kê khoai những sản hằng,
Tường đào ngõ mận ngại thung thăng.
Ðạo ta cậy bởi chân non khỏe,
Lòng thế tin chi mặt nước bằng.
Đìa cỏ được câu ngâm gió,
Hiên mai cầm chén hỏi trăng.
Thề cùng viên hạc trong hai ấy,
Thấy có ai han chớ đãi đằng.


Chú thích
 

(023.2) tường đào ngõ mận: ông Địch Nhân Kiệt hay tiến cử người hiền, nên đời khen là "đào lý tại công môn" nghĩa là người hiền đều ở cửa ông ấy cả. Nay gọi các kẻ môn hạ là môn tường đào lý là do nghĩa ấy (Hán Việt tự điển, Thiều Chửu).
(023.3) chân non khỏe: chân núi vững chắc. Khổng Tử : Trí giả nhạo thủy, nhân giả nhạo sơn (Người trí thích nước, kẻ nhân thích núi). Ðạo cậy về nhân (như chân núi vững chắc), lòng người khó tin (như mặt nước phẳng lặng).
(023.5) đìa cỏ: Tạ Huệ Liên (394-430) lên 10 tuổi đã nổi tiếng văn hay. Anh họ Tạ Huệ Liên là Tạ Linh Vận (385-433) nói "Chỉ đứng trước mặt Huệ Liên là được câu hay". Một hôm, cả ngày tìm tứ thơ mà không được gì, chợt nhớ đến Huệ Liên thì nghĩ ra câu đắc ý: Trì đường sinh xuân thảo (Bờ ao sinh cỏ xuân).
(023.5) câu ngâm gió: Tạ Ðạo Uẩn có câu thơ tả tuyết rơi rất nổi tiếng: Liễu nhứ nhân phong khởi (Bông liễu bay khi gió nổi).
(023.6) cầm chén hỏi trăng: Lý Bạch trong bài Bả tửu vấn nguyệt (Nâng chén rượu hỏi trăng) có câu: Thanh thiên hữu nguyệt lai kỉ thì, Ngã kim đình bôi nhất vấn chi
(Trời xanh có trăng tự thuở nào, Ta nay dừng chén thử hỏi).
(023.7) viên hạc: vượn và hạc. Dương Hựu, đời Tống, chỉ thích đọc sách ngâm thơ, làm bạn với vượn và hạc.








Wednesday, 26 December 2018

022 Bốn mươi




[bài 22] (Ngôn chí 21/21)

Chẳng hay rắp rắp đã bốn mươi,
Ngày tháng bằng thoi một phút cười.
Thế sự người no ổi tiết bảy,
Nhân tình ai cúc mồng mười.
Thuyền chèo đêm nguyệt sông biếc,
Cây đến ngày xuân lá tươi.
Phú quý chẳng tham thanh tựa nước,
Lòng nào vạy mỗ hơi hơi.


Chú thích

(022.4) : <từ cổ> quan tâm đến, đoái đến (xem J. F. M. Génibrel ỏ: dédaigner, ne faire aucun cas de).

Ngẫm ngợi

Nguyễn Trãi (1380-1442) lên 40 tuổi năm 1420, tham gia cuộc kháng chiến chống quân Minh, dưới quyền lãnh đạo của Bình Định Vương Lê Lợi trong 10 năm trời (1418-1427), đưa đến thành công. Nguyễn Trãi là người viết bài Bình Ngô đại cáo
(...)
Vì họ Hồ chính sự phiền hà, để trong nước nhân dân oán hận. Quân cường Minh đã thừa cơ tứ ngược, bọn gian tà còn bán nước cầu vinh. Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ. Chước dối đủ muôn nghìn khoé, ác chứa ngót hai mươi năm. Bại nhân nghĩa nát cả càn khôn, nặng khóa liễm vét không sơn trạch. Nào lên rừng đào mỏ, nào xuống biển mò châu; nào hố bẫy hươu đen, nào lưới dò chim trả. Tàn hại cả côn trùng thảo mộc, nheo nhóc thay! quan quả điên liên! Kẻ há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán. Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa. Nặng nề về những nỗi phu phen, bắt bớ mất cả nghề canh cửi.
Ðộc ác thay! trúc rừng không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay! nước bể khôn rửa sạch mùi,
Lẽ nào trời đất tha cho; ai bảo thần nhân nhịn được. 








































Tuesday, 25 December 2018

021 Dấu người đi




[bài 21] (Ngôn chí 20/21)

Dấu người đi la đá mòn,
Ðường hoa vướng vất trúc lòn.
Cửa song dãi xâm hơi nắng,
Tiếng vượn vang kêu cách non.
Cây rợp tán che am mát,
Hồ thanh nguyệt hiện bóng tròn.
Rùa nằm hạc lẩn nên bầy bạn,
Ủ ấp cùng ta làm cái con.



Chú thích

(021.1) la đá: âm cổ của "đá".













Sunday, 23 December 2018

020 Ngày nhàn






[bài 20] (Ngôn chí 19/21) 

Nẻo có ăn thì có lo,
Chẳng bằng cài cửa ngáy pho pho.
Ngày nhàn mở quyển xem Chu Dịch,
Ðêm vắng tìm mai bạn Lão Bô.
Ðã biết cửa quyền nhiều hiểm hóc,
Cho hay đường lợi cực quanh co.
Tuồng nay cốc được bề hơn thiệt,
Chưa dễ bằng ai đắn với đo.


Chú thích

(020.3) Chu Dịch : Tên bộ sách cổ của Trung Hoa, do Phục Hi chế ra các quẻ, Chu Văn Vương soạn Hệ Từ , Khổng Tử viết phần Thập Dực . Nội dung khảo sát sự biến hóa tự nhiên, thiên văn khí tượng. Các bậc đế vương thời cổ dùng trong việc chính trị, bói toán. Tới Khổng Tử trở thành sách triết học cơ bản của nhà Nho. Sách này còn có tên là Dịch Kinh hay Hi Kinh .
(020.4) Lão Bô: Lâm Bô (967-1028), tự Quân Phục , thụy Hòa Tĩnh , người Bắc Tống đất Tiền Ðường . Suốt đời không làm quan, không lấy vợ, ở ẩn tại núi Cô Sơn vùng Tây Hồ 西, thích làm thơ, trồng mai, nuôi hạc. Người đời xưng là Mai thê hạc tử . Nguyễn Trãi trong bài 81 (Quốc Âm Thi Tập) có câu Mai Lâm Bô đâm được câu thần.
(020.7) cốc: <từ cổ> hiểu, biết.










Wednesday, 19 December 2018

019 Một thuyền câu




[bài 19] (Ngôn chí 18/21)

Thương Lang mấy khóm một thuyền câu,
Cảnh lạ đêm thanh hứng bởi đâu.
Nguyệt mọc đầu non kình dõi tiếng,
Khói tan mặt nước thận không lầu.
Giang sơn dạm được đồ hai bức,
Thế giới đông nên ngọc một bầu.
Ta ắt lòng bằng Văn Chính nữa,
Vui xưa chẳng quản đeo âu.

Chú thích


(19.1) Thương Lang : Tên sông. Khuất Nguyên (343-? trước CN) trong bài Ngư phủ có câu Thương Lang chi thủy thanh hề, khả dĩ trạc ngã anh, Thương Lang chi thủy trọc hề, khả dĩ trạc ngã túc (Nước sông Thương Lang trong hề, có thể giặt dải mũ của ta, Nước sông Thương Lang đục hề, có thể rửa chân ta).
(19.3) kình : Theo truyền thuyết, bồ lao là tên một loài thú ở biển, rất sợ cá kình, khi bị cá kình đánh thì rống lên. Làm chày nện chuông hình cá kình để chuông kêu lớn.
(19.4) thận : Một tiếng gọi tóm cả các loài sò hến. Ánh sáng soi bể giọi lên trên không thành ra lâu đài tráng lệ, muôn hình ngàn trạng. Ngày xưa cho là vì con sò thần nó hóa ra và gọi là thận lâu hải thị chợ biển lầu thận, chỉ cảnh tượng hư ảo.
(19.7) Văn Chính : Tên thụy của Phạm Trọng Yêm (989-1052); có câu: Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc (Nhạc Dương Lâu kí ) (Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ).